Tạng Cha-xi lắc đầu, nhìn con Cang-rư-sân-cơ đang vừa đi vừa dừng lại trên con đường mòn về hướng thảo nguyên dưới chân động Giáng Diêm Vương. Vị lạt ma thần sắc u sầu nói với cha tôi: “Anh đi đi, Hán Cha-xi, hãy theo chân sư tử núi tuyết, anh sẽ tìm thấy 7 đứa trẻ Ama Thượng.” Cha tôi hỏi lại: “Bọn trẻ đi thật rồi?” Tạng Cha-xi im lặng không nói gì. Đầu tiên 7 đứa trẻ Ama Thượng bị lạt ma gậy sắt Tạng Cha-xi và mấy người chăn cừu đem về nhốt trong động Giáng Diêm Vương. Những người chăn cừu là đại diện của mấy bộ lạc. Mấy bộ lạc này đều muốn họ được thực hiện hình phạt chặt tay bọn trẻ, vì hầu như tất cả các bộ lạc đều có người chết do tay người Ama Thượng. Lạt ma gậy sắt Tạng Cha-xi nói với họ: “7 kẻ thù Ama Thượng này bị bắt tại chùa Chia-cu Tây, theo quy định ta có quyền phán quyết sẽ trao chúng cho bộ lạc nào. Nhưng hiển nhiên quyết định của ta sẽ dẫn đến tranh chấp giữa các bộ lạc. Vì vậy quyền phán quyết đó ta sẽ để ngài hộ pháp uy nghiêm của thảo nguyên quyết định. Bây giờ các người hãy về đi, về xin tù trưởng hoặc quản gia của các người đến điện thần hộ pháp thắp hương cầu xin Thiên Mẫu Cát Tường. Ngài cho phép bộ lạc nào làm tiên phong thực hiện sự phục thù này thì bộ lạc đó mới được mang người đi.”
Những người chăn cừu nghe rồi quay về rất nhanh. Mấy phút sau, lạt ma gậy sắt Tạng Cha-xi mở cửa động, căng thẳng thúc giục bọn trẻ: “Chạy nhanh đi! Chúng mày chạy nhanh đi cho tao! Mau trở về thảo nguyên Ama Thượng chết tiệt của chúng mày. Đừng bao giờ bén mảng đến thảo nguyên Chia-cu Tây nữa.” 7 đứa trẻ Ama Thượng chạy ùa ra khỏi động.
Nhưng bây giờ Tạng Cha-xi lại thấy hối hận, hối hận vì mình đã thả 7 kẻ thù Ama Thượng. Tạng Cha-xi biết tù trưởng các bộ lạc thảo nguyên Chia-cu Tây sẽ không tha thứ cho hành động phản bội của ông. Vì 1 trong những kỷ luật sắt của thảo nguyên là trừng phạt kẻ thù và kẻ phản bội. Ông là người chấp pháp của thảo nguyên, thả kẻ thù đi nghĩa là chấp pháp lại phạm pháp. Nếu uỷ ban công tác không đứng ra nói hộ Tạng Cha-xi thì ông sẽ phải chịu hình phạt nghiêm khắc dành cho kẻ phản bội. Nhẹ thì bị đuổi khỏi chùa Chia-cu Tây, bị tước đi tư cách lạt ma suốt đời, nặng thì bị chặt tay, mà chặt cả 2 tay, để suốt đời mất đi khả năng mưu sống.
Thảo nguyên mênh mông như những làn sóng đẹp như mơ, nhè nhẹ lướt qua. Cang-rư-sân-cơ dẫn cha tôi đến nơi ánh mặt trời ban mai trong suốt như núi Tuyết. Ánh mặt trời kết thành những tinh thể trong như pha lê, nhảy múa trong không gian điểm chút màu xanh lam. Bầu không khí như vậy thật sự khiến vạn vật sinh linh hân hoan vui mừng. Nhưng cha tôi và Cang-rư-sân-cơ chẳng vui chút nào. Suốt 1 đêm lăn lộn khiến cả 2 đã kiệt sức, đặc biệt là Cang-rư-sân-cơ. Nó buộc phải đi 1 đoạn lại nằm xuống nghỉ 1 lúc. Nó rất mệt, cũng rất đau khổ. Cái đau do vết thương chưa lành cộng thêm sự đau khổ không gặp được chủ khiến nó vừa đi vừa khóc u..u… làm cha tôi cũng mủi lòng rơi lệ.
Nhưng dù Cang-rư-sân-cơ mệt nhọc đau khổ đến đâu, song khát vọng tìm kiếm chủ nhân của nó trước sau không hề thay đổi. Nó đi 1 cách kiên trì, lúc đầu đi về hướng đông núi Tuyết, sau lại đi về hướng Nam, cuối cùng thay đổi phương hướng đi về hướng Tây. Cha tôi thấy rất lạ, nó đi 1 vòng tròn, chẳng lẽ 7 đứa trẻ Ama Thượng lại quay về? Hay là Cang-rư-sân-cơ đánh hơi nhầm, lẫn lộn giữa mùi cũ và mùi mới?
Khi cha tôi đang ngờ vực suy đoán thì bỗng Cang-rư-sân-cơ trở nên bồn chồn không yên. Nó muốn sủa thật to những không đủ sức, nhe cả 2 hàm răng ra đến lộ cả lợi. Nó vươn dài cổ sải bước thật nhanh. Thực ra lúc này nó đã đuối sức lắm rồi, bước chân càng lúc càng chậm, gần như giậm chân tại chỗ. Cha tôi bảo nó: “Nghỉ chút đi, Cang-rư-sân-cơ, mày đi không nổi nữa đâu.” Nói xong cha tôi ngồi phệt xuống. Nhưng nó không chịu nằm, hướng về phía trước sủa 1 tiếng trầm. Cùng lúc đó, cha tôi cũng nghe thấy tiếng vó ngựa, ngẩng đầu lên thấy mấy bóng người cưỡi ngựa từ chân trời tràn đầy ánh nắng phi như bay đến gần. Bóng các kỵ sĩ từ cánh phải phía trước vùng cỏ phi lên. Trên bãi cỏ bằng phẳng xuất hiện 1 hàng kỵ sĩ trông như chiếc kéo của ông trời cắt ra 7 bóng ngựa, trên lưng mỗi con ngựa có 1 người lớn, 1 trẻ con. Cang-rư-sân-cơ đã đánh hơi và nhìn thấy những bóng đó sớm hơn cả. Cha tôi hiểu ra: chủ nhân của nó, 7 đứa trẻ Ama Thượng bị các kỵ sĩ bắt mất rồi. Tướng cướp Chia-ma-chua, thủ lĩnh quân sự của bộ lạc Mục Mã Hạc dẫn các kỵ sĩ đi bắt 7 đứa trẻ, kẻ thù Ama Thượng mang đi.
Tù trưởng Ta-cơ-niê-y của bộ lạc Mục Mã Hạc nghe thuật lại vị lạt ma gật sắt Tạng Cha-xi quy định các tù trưởng hoặc quản gia các bộ lạc phải đến điện Thần Hộ Pháp thắp hương thỉnh cầu Thiên Mẫu Cát Tường, ngài chấp thuận bộ lạc nào được hành hình thì bộ lạc đó mới được đem người đi. Ta-cơ-niê-y biết ngay chắc chắn Tạng Cha-xi sẽ thả kẻ thù Ama Thượng. Điều đó rất đơn giản: nếu Tạng Cha-xi thật tâm muốn để người Chia-cu Tây phục thù thì sẽ chia 7 đứa trẻ ra, như vậy bộ lạc nào cũng được hành hình, hà tất phải quấy rầy Thiên Mẫu Cát Tường? Đại hộ pháp Thiên Mẫu Cát Tường rất nhân hậu và rộng lòng yêu thương, nếu không chứng minh được 7 đứa trẻ Ama Thượng là ma quỷ do kẻ thù sai phái đến thì Thiên Mẫu làm sao có thể cho phép người Chia-cu Tây chặt tay bọn trẻ, dù bàn tay đó là của kẻ thù. Đương nhiên cho dù không được Thiên Mẫu Cát Tường cho chỉ thị rõ ràng thì các bộ lạc cũng có thể đến thương lượng với thần núi và chiến thần bảo vệ các bộ lạc để việc chặt tay được danh chính ngôn thuận. Nhưng nếu khi đó được sự chấp thuận của thần linh thì cũng chẳng còn tay đâu mà chặt nữa. Không khẩn trương lên e rằng kẻ thù Ama Thượng đã cao chạy xa bay khỏi thảo nguyên Chia-cu Tây rồi.
Người tù trưởng tài trí Ta-cơ-niê-y của bộ lạc Mục Mã Hạc 1 mặt cử người đến núi tuyết Long Bảo tế lễ bẩm báo với thần núi Hạc cổ đen, đến thảo nguyên Long Bảo Trạch tế lễ bẩm báo với chiến thần, mặt khác sai tướng cướp Chia-ma-chua dẫn các kỵ sĩ đi đuổi bắt 7 kẻ thù Ama Thượng.
Tin tức như có cánh lan khắp thảo nguyên rất nhanh: 7 kẻ thù Ama Thượng đã được lạt ma gậy sắt Tạng Cha-xi thả đi mất rồi. 1 tin nữa loan đi càng nhanh: hình phạt chặt tay sẽ diễn ra ở bờ sông Dã-la dưới núi nhà vọng gác. Những cư dân du mục ai đến được đều đã đến, đặc biệt là người của bộ lạc Mục Mã Hạc.
Nơi trú mục của bộ lạc Mục Mã Hạc là thảo nguyên Long Bảo Trạch dưới chân núi tuyết Long Bảo. Dân bộ lạc đều tụ tập dưới núi vọng gác để xem hành hình, vì núi vọng gác là núi của tất cả các bộ lạc trên thảo nguyên. Khoảng 100 năm trước, để chống lại những kẻ xâm lược, trong đó có các kỵ sĩ Ama Thượng và bảo vệ chùa Chia-cu Tây thiêng liêng, cũng vì sự an toàn của các tù trưởng và gia quyến của họ, tất cả tù trưởng của các bộ lạc đều lấy danh nghĩa của bộ lạc mình xây dựng nhà vọng gác tại đây. Từ đó dần dần trở thành thông lệ, phàm những hoạt động liên quan đến chống địch ngoại xâm, liên quan đến ban thưởng, trừng phạt, tế lễ, xuất quân… tất cả các bộ lạc đều cử hành dưới núi vọng gác.
Trước đài hành hình bỗng náo nhiệt hẳn lên. Người đông, chó cũng nhiều. Chó con nô đùa chạy nhảy khắp nơi. Chó đến tuổi yêu đương thì chạm mũi, liếm lông nhau. Chó quen thì hỏi thăm nhau, chó lạ thì chào hỏi làm quen… Chó ở đây khác chó ở nơi khác. Chó ở đây bất kể là lạ hay quen đều không bao giờ mặt xưng mày xỉa, hằm hè, đánh nhau. Vì hơi của đối phương đều báo cho chúng biết: chúng ta đều thuộc về thảo nguyên Chia-cu Tây cả. Đối với chó Tạng, đặc biệt là Ngao Tạng, thảo nguyên Chia-cu Tây có 1 hơi thở đặc biệt, tuyệt đối khác với hơi của thảo nguyên bên ngoài. Ngay cả cha tôi cũng cảm nhận được điều đó. Sau này cha tôi nói: “Đây là thảo nguyên Ngao, ngay cả không khí cũng có mùi khai của Ngao. Mùi đó một khi đã ngửi quen rồi thấy dễ ngửi. Nó có vị mặn mặn, gần giống không khí tanh mằn mặn của tôm cá ngoài biển vậy.” Cha tôi và Cang-rư-sân-cơ khó khăn lắm mới đến được dưới chân núi vọng gác. Khi nhìn từ xa thấy khán đài hành hình thì hình phạt chặt tay đã sắp bắt đầu.
Đài hành hình được xếp bằng những phiến đá, trên dựng 1 hàng giá đỡ bằng gỗ thô, trên giá gác 1 hàng vòng sắt, dây thừng, nhìn biết ngay là để trói và treo người. Trước và sau giá đỡ là 1 cái thớt gỗ to vừa dầy vừa nặng, có thể để người nằm lên trên để chém. 7 đứa trẻ Ama Thượng đã bị 7 người đàn ông cao to lực lưỡng áp giải lên đài. 2 đao phủ đeo mặt nạ hình đầu Ngao uy vũ đứng trên đài, khư khư ôm trong lòng con dao chặt tay hình đầu lâu. Dưới ánh mặt trời giữa trưa, lưỡi dao sáng lóa khiến ngực đao phủ cũng ánh lên màu bạc chói mắt. 7 pháp sư đội mũ đỏ của bộ lạc Mục Mã Hạc mỗi người trong tay cầm 1 cây kích, đọc to những câu kinh và thần chú. 7 người khác đội mũ đen, mỗi người tay cầm 1 cái trốn hình đầu người gõ chầm chậm, trầm trầm. Ngoài ra còn 7 mụ phù thủy đội mũ vàng, tay múa gậy thiết ma, vừa đi vừa nhảy múa vòng quanh đài hành hình.
Cha tôi dừng lại, Cang-rư-sân-cơ cũng dừng lại đứng xa. Cha tôi và Cang-rư-sân-cơ đều ý thức được rằng không thể cứ đi như thế mà vào được. Có thể lách qua người đi vào, nhưng còn đàn chó thì sao? Chó Tạng, đặc biệt là Ngao Tạng của thảo nguyên Chia-cu Tây sẽ xé tan con Ngao đực sư đầu Cang-rư-sân-cơ của thảo nguyên Ama Thượng này ra, rồi chim ưng và chim ưng trọc đầu sẽ rỉa xác nó không sót 1 mảnh thịt. Người và chó đều đứng ngây ra, không biết nên làm thế nào. Cang-rư-sân-cơ mệt mỏi ngẩng đầu lên, nét mặt buồn thảm nhìn 7 đứa trẻ Ama Thượng đang đứng trên đài hành hình. Nó ý thức được mình đã lực bất tòng tâm. 4 tâm nó mềm nhũn, khụy xuống. Nó ngã xuống đất. Cha tôi ôm lấy nó, nhìn vào đôi mắt đẫm lệ của nó nói: “Cang-rư-sân-cơ kiệt sức rồi sao? Cố lên, đừng nản. Chúng ta hãy nghĩ cách xem sao.” Cha tôi nhìn quanh như cầu viện. Ông nhìn thấy không xa có 1 cái nhà bạt, trước bãi cỏ nhà bạt có phơi mây tấm da bò chưa khô hẳn, trên da bò có mấy con chim vành khuyên đang nhảy nhót mổ thức ăn. Cha tôi nghĩ 1 lúc rồi nói: “Bây giờ phụ thuộc vào mày đấy, Cang-rư-sân-cơ. Chỉ cần mày đi nổi, có thể 2 ta sẽ đến được đấy.”
Khả nặng hiểu biết của Cang-rư-sân-cơ làm cha tôi thực sự kinh ngạc. Cha tôi ra kéo lấy 1 tấm da bò rồi vừa trùm lên người mình làm mẫu thì Cang-rư-sân-cơ cũng đứng dậy ngay. Cha tôi lấy tấm da bò phủ kín người Cang-rư-sân-cơ, chỉ chừa lại đôi mắt. Cha tôi hỏi: “Mày đi được chứ?” Nó dùng hành động trả lời cha tôi “Được.” Cả 2 cùng đi về phía trước. Cha tôi bước đi trước, nó đi theo sau cúi đầu nhìn theo chân cha tôi đi chầm chậm. Thoáng nhìn, đặc biệt là chó thoáng nhìn, chỉ thấy 1 con bò đen đang di động. Bọn chó chỉ ngạc nhiên: “Sao trên người con bò này lại có cả mùi chó nơi khác nhỉ? Hay nó bị chó nơi khác cắn? Không phải cắn bị thương mà là cắn mất đầu. Con bò không có đầu này sao lại đi được nhỉ???”
Ơn trời đất, Cang-rư-sân-cơ cứ đi như vậy. Nó chưa khụy xuống. Có lẽ nó sắp khụy xuống rồi. Đối với cơ thể suy nhược của nó, ngay cả bộ lông dầy rậm vàng óng của chính nó cũng đã là gánh nặng rồi, làm sao còn đủ sức đội lốt bò nặng trịch thế này. Nhưng nó vẫn kiên trì không để mình khụy xuống. 7 chủ nhân bé nhỏ Ama Thượng của nó đang cần cứu mạng khiến nó vẫn đứng thẳng, vẫn đi như 1 kỳ tích. Nó và cha tôi an toàn qua được đàn chó, trong đó có rất nhiều con Ngao Tạng thông minh, cũng đã an toàn qua được đám đông con người còn thông minh hơn. Người đương nhiên nhận ra đấy là 1 con chó chứ không phải con bò, nhưng họ không hiểu sao chó lại phải đội lốt bò mà đi. Họ tưởng tế lễ chặt tay kẻ thù cần có sự hóa trang như vậy.
Càng tiếng gần tới bục hành hình, càng gần đến giờ phút nguy hiểm nhất. Không hiểu sao có mấy con Ngao Tạng to cao tách hẳn ra khỏi bầy chó lãnh địa, đứng chắn ngang lối đi của cha tôi và Cang-rư-sân-cơ. Trong số đó có Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao với bộ lông trắng tinh. Bất giác cha tôi rùng mình, Cang-rư-sân-cơ cũng rùng mình. Bước đi của cả 2 một trước một sau chậm hẳn lại. May con Cang-rư-sân-cơ đột lốt da bò chưa ngã xuống trong run rẩy. Với sự kiên nhẫn mà ngay cả bản thân nó cũng không ngờ, nó vẫn chầm chậm di động như cũ, đi như những con bò vẫn được đàn chó che chở, không do dự đi thẳng đến chỗ bầy Ngao Tạng đang chắn đường. Ngao Vương đã nhận ra cha tôi. “Người này chính là người ngoại lai đã cứu Cang-rư-sân-cơ mang vào trong tăng xá. Hắn thật đáng ghét. Nhưng hắn cũng rất giỏi. Qua thái độ của Ngao đen Na-rư đối với hắn, Ngao Vương biết mình không được phép cắn hắn. Hắn không trả thù việc Ngao đen Na-rư cắn chết con ngựa của hắn, cắn hắn bị thương, trái lại còn thu phục được trái tim của Na-rư. Rõ ràng là trời sinh ra người ấy là chủ nhân lý tưởng của Ngao Tạng.” Nó thấy người chủ lý tưởng này bỗng nhìn nó tươi cười rồi vừa hát vừa múa, vung tay đá chân điệu múa Tây Tạng. Ngao Vường nhìn 1 cách hiếu kỳ. Đứng cạnh nó là con Ngao đen Cô-rư, Ngao đực xám già và mấy con Ngao Tạng khác. Chúng nhìn cha tôi còn hiếu kỳ hơn cả Ngao Vương. Cha tôi càng hát múa nhiệt tình hơn.
Cứ như vậy, đàn Ngao Tạng chắn đường đáng sợ kia quên bẵng “con bò” vì hiếu kỳ. Khi cha tôi múa may quay cuồng như vậy, Cang-rư-sân-cơ vẫn đội lốt bò căng thẳng chầm chậm tiến sát gần đàn chó chắn đường. Ngao Vương và những con Ngao Tạng khác không thèm để ý đến nó. Bò thì lúc nào chúng chẳng thấy, chán chết đi được, có nhìn thêm cũng chẳng thiết. Chúng ngước mắt lên nhìn đôi tay giơ cao đang múa may của cha tôi. Sau đó cha tôi cởi áo ra múa, sột soạt sột soạt, thu hút đôi mắt chúng. Khi cha tôi không múa nữa cũng là lúc Cang-rư-sân-cơ đã đi qua, khoảng cách nhanh chóng kéo dài. Mối hiểm nguy đang được loại trừ. Ngao Vương và chúng bạn của nó với khoảng cách càng lúc càng xa khó phân biệt được con vật đội lốt bò chứ không phải bò thật.
Cuối cùng cha tôi và Cang-rư-sân-cơ cũng đến được dưới đài hành hình. Ở đây không có chó, chỉ toàn người là người. Mọi người đang chìm đắm trong lễ nghi trang nghiêm. Ai nấy không biểu lộ tình cảm gì, dủ chỉ 1 chút ngạc nhiên. Cha tôi kéo tấm da bò trên mình Cang-rư-sân-cơ xuống, vừa bế vừa đẩy nó lên đài hành hình.
Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao từ xa nhìn thấy vô cùng sửng sốt. Tất cả Ngao Tạng và chó Tạng lâu la đã từng chú ý tới “con bò” này đều sửng sốt. Sau đó là tiếng sủa ầm ĩ của đàn chó. Riêng Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao không sủa. Nó nhớ lại cảnh cha tôi và Cang-rư-sân-cơ đi qua lúc nãy. Trong người nó có 1 cảm giác khó chịu, như cảm giác đói bụng đang lan tỏa. Nó không nghĩ rằng mưu kế quái quỷ ấy là do con người nghĩ ra. Nó cho rằng Cang-rư-sân-cơ lọt qua được mắt nó hoàn toàn nhờ vào tố chất và khả năng phi phàm của 1 con Ngao Tạng xuất sắc, thông minh lanh lợi và gan dạ mưu lược phi thường. Ngao Vương thích loại Ngao Tạng này, đồng thời lại cảnh giác. Nếu loại Ngao Tạng này thuộc về thảo nguyên mình suốt đời canh gác thì nó chắc chắn sẽ là 1 tướng tài, tiêu diệt dã thú bảo vệ người và tài sản. Nhưng nếu nó đến từ thảo nguyên của kẻ thù thì nó sẽ trở thành mối đe dọa lớn không để thảo nguyên Chia-cu Tây được bình yên. Dứt khoát phải đuổi nó đi. Không! Không phải đuổi mà là cắn chết, phải cắn chết nó. Ngao Vương tức giận nghĩ vậy. Nó không còn giữ được bình tĩnh, từ cuống họng gầm lên mấy tiếng trầm đục.
Vừa bước chân lên đài hành hình, Cang-rư-sân-cơ đi thẳng đến 7 đứa trẻ Ama Thượng, chính xác là đến thằng bé mặt sẹo. Bọn trẻ đồng thanh gọi: “Cang-rư-sân-cơ!” Cang-rư-sân-cơ vẫy đuôi với bọn trẻ, trừng mắt nhìn mấy người đàn ông cao to đang ấn chặt chúng. Nhưng nó không sủa, thậm chí không nhe nanh ra dọa. Nó biết rõ lúc này không phải lúc đối kháng. 1 nghi thức trang nghiêm sắp được cử hành. 1 ý chí của tập thể loài người sắp được thực hiện, chó (dù là Ngao Tạng to gan lớn mật) không thể cưỡng lại được. Nó hiểu rõ hiện trạng của nó: bị thương và đang đau, không đủ sức để chống lại bất kỳ 1 địch thủ nào nữa. Việc duy nhất nó có thể làm là tìm đến với chủ, chịu chung số phận bị giết, bị chặt tay với chủ. Nó nằm xuống bên cạnh thằng bé mặt sẹo, cùng chủ đối mặt với cái thớt dùng để chặt tay và 2 đao phủ đeo mặt nạ đầu Ngao. Cha tôi theo chân Cang-rư-sân-cơ đi về phía 7 đứa trẻ Ama Thượng, cười hỏi: “Các cháu gọi nó là Cang-rư-sân-cơ, chú cũng gọi nó là Cang-rư-sân-cơ, vậy Cang-rư-sân-cơ nghĩa là gì?” Thằng bé đầu to dùng cằm cố hất tay người đàn ông cao to đang nắm vai nó, ngoảnh đầu nhìn thằng bé mặt sẹo nói: “Sư tử núi Tuyết”. Cha tôi hỏi lại: “Cang-rư-sân-cơ là sư tử núi Tuyết ư? Sao các cháu biết?” Thằng bé đầu to ngớ ra, không hiểu sao cha tôi lại hỏi như vậy. Cha tôi nói to: “Chú bảo cho các cháu biết, phật sống Tan-Trân chủ trì chùa Chia-cu Tây nói Cang-rư-sân-cơ là sư tử núi Tuyết trên núi A-ni-ma-chinh đầu thai. Kiếp trước nó đã bảo vệ các vị tăng tu hành trên núi tuyết. Nó là con chó thần. Không ai được phép ức hiếp nó. Các cháu nói lại lời chú bằng tiếng Tạng, nói thật to, để mọi người cùng nghe.” Mặt sẹo hỏi đầu to: “Chú ấy nói gì đấy?” Đầu to thuật lại với nó. Thằng bé mặt sẹo thông minh không kém Cang-rư-sân-cơ, hiểu ngay ý cha tôi. Nó gần như gào lên thuật lại những gì cha tôi nói.
Rồi cha tôi như chẳng có chuyện gì, đến gần 1 đao phủ đeo mặt nạ đầu Ngao, giơ ngón tay cái lên cười nói: “Đao của anh mới đẹp làm sao! Tôi chưa từng thấy đao nào trang trí đẹp thế này.” Gã đao phủ thấy cha tôi mặc trang phục người Hán, biết cha tôi là người của Ủy ban công tác Chia-cu Tây bèn cười cười với ông sau mặt nạ. Cha tôi cảm thấy người đao phủ có vẻ hữu hảo với mình, không cần biết anh ta có nghe hiểu mình nói gì hay không, ông chìa tay ra nói: “Có thể cho tôi xem đao của anh được không?” Người đao phủ không hiểu cha tôi muốn gì, lúng túng lắc đầu. Cha tôi thò tay vào lòng anh ta, cầm lấy chuôi đao. Người đao phủ hơi do dự một chút, nhưng rồi cũng buông tay ra. Cha tôi cầm đao, dưới ánh nắng chói lọi, ngắm nghía cán rồi mũi dao.
Vừa lúc đó dưới đài hành hình có tiếng huyên náo, đàn chó sủa vang. Cha tôi ngẩng đầu lên thấy 7 pháp sư đội mũ đỏ giơ kích lên cao, 7 người đội mũ đen cũng giơ trống hình đầu người lên cao, 7 phù thủy đội mũ vàng giơ gậy thiết ma gắn các vòng loảng xoảng lên. Những pháp sư của các bộ lạc khi giơ cao pháp khí đều quay đầu hướng về 1 lối do dòng người tự giãn ra. 1 đoàn người ăn mặc sang trọng từ lối đó tiến về phía đài hành hình. Những người mục đồng đứng 2 bên lặng lẽ cúi xuống kính cẩn chào. Thậm chí đàn chó cũng im không sủa nữa, ngay cả tiếng sủa vui mừng cũng không có. Cha tôi thấy trong đoàn người có quản gia Chi-Mây mà cha tôi vừa gặp buổi sáng mới đoán đây là những người có địa vị thế nào. Nhưng cha tôi không ngờ tù trưởng và quản gia của tất cả các bộ lạc thảo nguyên Chia-cu Tây đều có mặt, kể cả tù trưởng Suô-lang-uang-tuôi của bộ lạc sông Dã-la và tù trưởng Ta-cơ-niê-y của bộ lạc Mục Mã Hạc đã nói ở trên.
Các vị tù trưởng và quản gia nhanh chóng tiến đến vè dừng lại tại 1 mảnh đất trống đặc biệt giành cho họ dưới đài hành hình. Có nghĩa là chủ nhân của buổi nghi thức, tù trưởng Ta-cơ-niê-y và những tù trưởng của các bộ lạc được mời tới dự đã đến đông đủ, buổi hành hình sắp bắt đầu. Đao phủ nọ lễ phép cúi chào cha tôi, có ý: “Hãy trả đao cho tôi.” Cha tôi cười gằn, bỗng nhảy ra sau túm lấy lông gáy Cang-rư-sân-cơ. Cang-rư-sân-cơ giật mình, nghiêng đầu thấp thỏm nhìn cha tôi. Cha tôi nói thật to: “Nghe đây! Hãy nghe đây, tất cả mọi người ở dưới nghe đây! Hôm nay các vị đã đến cả đây, đến đây làm gì? Đến xem chặt tay hay đến xem tôi và Cang-rư-sân-cơ? Hôm nay tôi tự nhiên không muốn sống nữa, Cang-rư-sân-cơ cũng không muốn sống nữa. Hôm nay chúng tôi liều chết 1 phen.”
Dưới đài hành hình náo động hẳn lên. Chó lại sủa. Đa số người không hiểu cha tôi nói gì, chỉ thấy bộ dạng cha tôi thật dễ sợ. 1 tay ông giơ cao đao đầu lâu sáng lóa, 1 tay túm con Cang-rư-sân-cơ không hề có chút phản kháng. Cha tôi gào thét, mặt mũi thật dễ sợ. Nhìn cha tôi hệt như 1 vị Kim Cương đại uy đại đức, trấn tà trừ ma. Cha tôi đợi tiếng chó sủa lắng đi, lại kêu to: “Cang-rư-sân-cơ là chó như thế nào? Tôi không nói chắc các vị cũng điều biết. Nó là sư tử núi Tuyết, là vị thần đến từ núi Tuyết A-ni-ma-chinh. Kiếp trước nó đã từng bảo vệ tất cả tăng lữ tu hành trên núi Tuyết. Nay nó đến để bảo vệ thảo nguyên Chia-cu Tây. Chắc các vị không để mặc nó chết chứ? Còn tôi, tôi là ai? Các vị không biết phải không? Phật sống Tan-Trân nói tôi là người Hán đem lại may mắn, người Hán cát tường, tất cả lạt ma phải đối xử với tôi như đối xử với chính mình, vì tôi đã đưa hóa thân của sư tử núi Tuyết đến thảo nguyên Chia-cu Tây. Tôi nói cho các vị biết, tôi là bạn của chó, là ân nhân của chó. Tôi đã cứ mạng Cang-rư-sân-cơ, cứu mạng Ngao đen Na-rư. Mọi người trên thảo nguyên đều nói tôi là Hán bồ tát đến từ phương xa, mang lại hạnh phúc cho thảo nguyên Chia-cu Tây. Nay tôi trịnh trọng tuyên bố, ai chặt tay 7 đứa trẻ, tôi sẽ chém chết con Cang-rư-sân-cơ rồi đến chùa Chia-cu Tây chém chết Ngao đen Na-rư, cuối cùng chém chết Hán bồ tát, chính là tôi đây!”
Cha tôi vừa gào, vừa kéo Cang-rư-sân-cơ ra, ấn cái đầu to tướng của nó xuống cái thớt gỗ. Cang-rư-sân-cơ nghe cha tôi gọi tên nó mấy lần, biết ngay dụng ý của cha tôi. Nó thuần phục không động đậy chút nào, chỉ chớp mắt hỏi cha tôi: “Chém tôi thật sao?”
Dưới đài hành hình, đàn chó sủa inh ỏi chạy ùa ra phía trước. Chúng thấy điệu bộ của cha tôi, tưởng ông chém Cang-rư-sân-cơ thật, chúng sủa để trợ uy. Duy chỉ có Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao không sủa tiếng nào. Nó nghiêng tai lắng nghe cha tôi nói, nghiên cứu nét mặt ông. Túy nó nghe không hiểu, cũng không rõ nhưng đã có 1 kết luận chính xác: “Người Hán này luôn che chở bảo vệ Ngao Tạng, không bao giờ lại giết Cang-rư-sân-cơ. Tất cả mọi người, kể cả người thảo nguyên Chia-cu Tây đều không thể giết con sư tử núi Tuyết ngoại lai này. Kẻ giết chết nó chỉ có thể là Ngao Tạng, nói đúng ra là chính nó, Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao của thảo nguyên Chia-cu Tây.” Ngao Vương theo đàn chó chạy về phía trước, gần đến đài hành hình nó dừng lại. Nó dùng tiếng sủa và ánh mắt ngăn đàn chó lộn xộn kia ngồi yên quan sát. Nó cũng quan sát tìm kiếm cơ hội. Không có. Không có cơ hội nào. Nó thấy thật sự đáng tiếc. Nó biết trong hoàn cảnh người đông chó nhiều vô kể thế này, khó có thể thực hiện kế hoạch giết Cang-rư-sân-cơ. Ngay cắn nó 1 miếng cũng chẳng có cơ hội nữa là. Nó chán chường lùi ra sau mấy bước, rồi bỗng nhiên nó không thấy hài lòng chút nào: “Cang-rư-sân-cơ là kẻ xâm phạm. Chủ của nó là kẻ thù Ama Thượng. Sao không thấy người của thảo nguyên Chia-cu Tây nhảy lên đài tỏ rõ thái độ, bày tỏ sự phẫn nộ chứ? Chẳng lẽ tất cả mọi người cũng như con Ngao đen Na-rư, cũng đã thích con Ngao sư đầu đẹp trai tuấn tú này rồi ư? Không! Điều đó không cho phép, trời xanh không cho phép, tổ tiên không cho phép, Ngao Tạng chúng tôi cũng cương quyết không cho phép. Cắn chết nó, cắn chết nó đi! Phải cắn chết thật nhanh.” Càng nghĩ Ngao Vương càng thấy chính mình phải cắn chết Cang-rư-sân-cơ mới được.
Trong đám người, quản gia Chi-Mây biết tiếng Hán. Ông dịch lại những lời cha tôi nói cho các tù trưởng nghe. Tù trưởng bộ lạc sông Dã-la Suô-lang-uang-tuôi nói: “Tôi cũng đã nghe phật sống Tan-Trân nói vậy. Phật sống Tan-Trân chắc không nhìn lầm người chứ?” Tù trưởng bộ lạc Mục Mã Hạc Ta-cơ-niê-y nói: “Tôi phục người Hán này không sợ chết, lại càng phục người Hán này cứu mạng Ngao Tạng. Nhưng người đó không nên bảo vệ 7 kẻ thù Ama Thượng. Bảo vệ chúng thì anh ta không phải Hán bồ tát của thảo nguyên Chia-cu Tây, là Hán bồ tát của thảo nguyên Ama Thượng rồi.”
Cha tôi vung đao đầu lâu tiếp tục kêu to: “Trong các vị ai là người có quyền? Hãy thả 7 đứa trẻ này ra. Nếu không tôi chém thật đấy.”
Hành động của cha tôi sau này người ta coi là hành động của kẻ liều mạng. Nhưng thật sự lúc ấy nó cũng có tác dụng trì hoãn rồi dẫn đến ngăn chặn việc chặt tay 7 đứa trẻ. Người trực tiếp tổ chức nghi lễ chặt tay là tướng cướp Chia-ma-chua của bộ lạc Mục Mã Hạc kéo quản gia Chi-Mây của bộ lạc sông Dã-la lên đài hành hình. Quản gia Chi-Mây kêu: “Hán bồ tát, Hán bồ tát, anh đừng làm vậy. Anh không hiểu nguyên nhân đâu. Người Ama Thượng nợ máu chúng tôi, nợ mạng chúng tôi.” Tướng cướp Chia-ma-chua cũng bập bẹ chút tiếng Hán, khua tay múa chân nói: “Nguyên nhân xa, xa lắm, nợ nhiều lắm, nhiều lắm.” Quản gia Chi-Mây nói: “Đúng vậy, họ nợ rất nhiều mạng người và cả mạng Ngao Tạng nữa. Dù có chém đầu 7 kẻ thù này cũng không trả hết nợ máu đâu.”
Cha tôi trả lời: “Ai nợ các anh đi đòi người ấy. Mạng của các anh không phải do 7 đứa trẻ con này nợ.”
Quản gia dịch lại lời cha tôi cho Chia-ma-chua nghe. Thủ lĩnh quân sự bộ lạc Mục Mã Hạc, tướng cướp Chia-ma-chua mặt đỏ như gấc, hầm hầm tức giận. Ông ta xì xì xồ xồ nói 1 tràng gì đó. Quản gia Chi-Mây nói: “Mạng của bộ lạc nào nợ, mọi người trong bộ lạc đều có phần phải trả. Mạng mà Ama Thượng nợ, tất cả người Ama Thượng đều phải trả. Đó là quy tắc của thảo nguyên.”
Cha tôi nói: “Đừng nói với tôi những điều này. Tôi không nghe đâu. Hán bồ tát ta có quy tắc của Hán bồ tát. Thả người ta, không tôi chém đấy.”
Tướng cướp Chia-ma-chua biết có nói nữa không không ăn thua. Ông ta quay sang mắng người đao phủ 1 hồi. Cha tôi nghe không hiểu lắm, đại khái là: “Đồ bỏ đi! Làm ăn thế à? Đao đầu lâu của mình cũng không giữ nổi. Bộ lạc nuôi đao phủ như mày thật uổng công, phí gạo. Sao không mau cướp lại đao đi!”
Đao phủ đeo mặt nạ đầu Ngao định cướp lại đao đầu lâu. Cha tôi giơ cao đao, gầm lên 1 tiếng: “Đừng lại gần, lại là tôi chém đấy. Chém chết Cang-rư-sân-cơ rồi chém chết cả tôi.” Gã đao phủ khựng lại rồi lại định xông tới cướp. Cha tôi nói: “Ối chà, nó cũng liều mạng như ta à?” Vừa dứt lời cha tôi vung đao chém xuống. Mọi người kêu rú lên. Trong mắt mọi người, nhát đao ấy chém vào đầu Cang-rư-sân-cơ. Nhưng chỉ có cha tôi và Cang-rư-sân-cơ biết rõ nhát đao ấy chém xuống bàn tay đang ấn đầu Cang-rư-sân-cơ của cha tôi. Bất giác con Cang-rư-sân-cơ run lên. Nó cảm thấy rất đau. Nó là 1 con Ngao Tạng xuất sắc, trái tim nó gắn liền với trái tim loài người. Nó cảm thấy ngay sự đau đớn đang lan tỏa toàn thân. Dường như người của cha tôi chính là người nó, thần kinh của cha tôi là thần kinh của nó. Khi vết thương ở tay cha tôi đau đớn, cũng là lúc nó đang chịu nỗi đau đó. Cang-rư-sân-cơ kêu rên u…u… Đấy là tiếng khóc, tiếng khóc từ đáy lòng mà nó học được của con người.
Gã đao phủ thấy vậy sợ quá, nhìn sang tướng cướp Chia-ma-chua rồi lùi lại. Tướng cướp đưa tay hẩy gã đao phủ vẻ coi thường rồi định đích thân xông vào cướp đao. Quản gia Chi-Mây vội kéo lại: “Anh đừng dồn người Hán này vào chân tường. Làm quá mất mạng người, mạng Ngao thì ai chịu?”
Máu chảy rồi! Cha tôi vung tay đang chảy máu nói: “Hãy nhìn đi, nhìn đi! Đây là máu của Hán bồ tát, máu chảy trên thảo nguyên Chia-cu Tây rồi.” Máu bắn tứ tung không biết bắn đi đâu, nhưng biết chắc có 1 giọt bắn lên mặt 1 cô gái. Cô gái này lấy tay lau, thấy trên tay xuất hiện 1 vệt máu như sao chổi. Cô xúc động chạy như bay lên đài hành hình kêu to: “Còn tôi nữa, ai đòi chặt tay 7 đứa trẻ thì chặt tay tôi trước.” Cha tôi nhìn, hóa ra là Mây-tô-la-mu. “Cô đến đây làm gì? Ở đây ai để tâm đến cô?” Sau đó cha tôi lại nói: “Thôi cũng được, để tay lên thớt đi. Tôi sắp chém đây.” Mây-tô-la-mu hít 1 hơi dài, để tay lên thớt. Cha tôi lại nói: “Tôi chém đây!” Cô cắn răng nói: “Anh cứ chém đi.” Nói xong cô nhắm chặt mắt lại.
Cha tôi giơ cao đao đầu lâu hệt như 1 kẻ say máu giết người. Đao không chém xuống vì cha tôi ý thức được vẻ xinh đẹp của Mây-tô-la-mu, bàn tay trắng nõn của cô. Nếu có phải chém thì ông sẽ chém nát tay, thậm chí đầu của mình chứ không chém Mây-tô-la-mu. Cha tôi phẫn uất hỏi Mây-tô-la-mu: “Sao không thấy Bạch chủ nhiệm đến? Phải chăng ông ta không hay biết? Hay ông ta biết những cố tình lánh mặt?”
Lúc này người mà cha tôi mong gặp nhất là Bạch chủ nhiệm của ủy ban công tác Chia-cu Tây và phật sống Tan-Trân. Ông linh cảm 1 trong 2 người đều có khả năng ngăn chăn nghi thức chặt tay tàn khốc này. Nhưng đến giờ phút này vẫn chưa thấy 2 người xuất hiện. Sao 2 người này phiêu diêu tận đâu không biết! Cha tôi vô cùng nản chí. Ông thấy hôm nay thật đen đủi, chắc mình sẽ chết tại đây thôi. Ông không hề lo khi vung đao đầu lâu chém vào cổ mình liệu có run sợ không, ông chỉ lo dù mình có chết thì bàn tay của 7 đứa trẻ Ama Thượng liệu có giữ được không. Cha tôi đứng ngây ra. Lúc này trông ông hệt như người bị hành hình. Ông đã lâm vào cảnh cưỡi hổ, tiến thoái lưỡng nan. Ngoài việc nghĩ ra mình sẽ tự sát, ông không còn nghĩ được gì nữa.
Đám đông người và chó đứng xem náo động không yên, nhưng nghi thức vẫn tiếp tục. Sau khoảng khắc im lặng, 7 pháp sư cầm kích mâu trừ nghịch, đầu đội mũ đỏ lại to tiếng tụng niệm. 7 thần Hán cầm trống hình đầu người, đầu đội mũ đen lại chầm chậm nặng nề gõ trống. 7 phù thủy tay cầm gậy ma thiếc, đầu đội mũ vàng lại bắt đầu vừa múa vừa hát. Họ đi vòng quanh đài hành hình. Những việc vừa xảy ra trên đào dường như chẳng dính dáng gì tới họ.
“Sao họ lại hững hờ vô cảm như vậy nhỉ? Ta sẽ chết trong sự hờ hững vô cảm của họ sao?” Nghĩ vậy, cha tôi vứt đao đầu lâu xuống, bỗng nước mắt giàn giụa tuôn trào. Sau này cha tôi kể lại: “Sao ta lại có thể chảy nước mắt lúc này? Sao ta không phải 1 Ngao Tạng kiên cường dũng mãnh? Sao ta lại mềm yếu như vậy? Mềm yếu đến mức đáng hổ thẹn, mềm yếu đến không phải là 1 đấng nam nhi nữa. Nếu ta là 1 pháp sư của phát Mật Tông hoặc 1 phù thủy của phái Bản Giáo thì ta sẽ không bao giờ biết thế nào là mềm yếu, ta sẽ đọc những câu thần chú làm những con Ngao Tạng không phân biệt được địch ta, sau đó điều động chúng đến cứu 7 đứa trẻ Ama Thượng. Đáng tiếc ta không phải phù thủy, không có bản lĩnh phá tan ma chướng, không có pháp lực đọc những câu thần chú mạnh mẽ sai khiến người khác. Ta thật sự chẳng còn cách nào nữa.”
Thấy cha tôi khóc, 7 đứa trẻ Ama Thượng biết tay mình bị chặt là điều không tránh khỏi, cùng nhau khóc hu hu. Mây-tô-la-mu cũng khóc hu hu. Còn Cang-rư-sân-cơ nước mắt cũng lặng lẽ chảy trên thớt làm ướt cả 1 mảng.
Trong đàn chó đứng không xa lắm, Ngao Vương phấn chấn hẳn lên. Cơ hội? Có lẽ đây là 1 cơ hội: trong lúc Cang-rư-sân-cơ và những người bên cạnh nó đang chìm trong đau thương không kịp phản ứng, nó sẽ chạy nhanh như tên bắn lên đài hành hình cắn chết đối thủ. Chỉ cần cắn 1 miếng, không cần cắn nhiều. Cắn 1 miếng mà nó không chết thì ta không phải là Ngao Vương nữa. Ngao Vương bất giác gầm khe khẽ, đi đi lại lại như thị uy, để lông Ngao trắng như tuyết của nó bay trong gió, 4 vó của nó nảy lên, chạy như tên bắn.
Cả thân hình Cang-rư-sân-cơ run lên 1 cái, mũi đánh hơi, tai vểnh lên, ngẩng đầu nhìn về phương xa. Nó không khóc nữa, liếm đi nước mắt trên thớt, sau đó đi đến mép đài hành hình, nhìn xuống dưới sủa khàn khàn. Nó đe dọa tù trưởng và quản gia nắm quyền sinh sát, hay nó đe dọa bọn chó Tạng đang xúm đông xúm đỏ xem hành hình và con Ngao Tạng trắng như tuyết đang chạy lại kia? Không, cha tôi lau nước mắt và phát hiện ra Cang-rư-sân-cơ không phải đe dọa mà là chào đón và trông chờ. Nó chào đón 1 người quen đã đến. Người đó là lạt ma gậy sát Tạng Cha-xi của chùa Chia-cu Tây.
Tạng Cha-xi dẫn mười mấy vị lạt ma gậy sát và 1 đàn chó nhà chùa chạy từ núi vọng gác tới. Tiếng chó nhà chùa sủa inh ỏi đã thu hút sự chú ý của mọi người và chó.
Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao dừng lại ngay. Nó biết lạt ma gậy sát là người thực thi luật pháp của thảo nguyên và thực hiện ý chí nhà chùa. Trong khắp thảo nguyên miền tây Chinh-cô-ama, chỉ có lạt ma gậy sắt mới được tùy ý trừng phạt tất cả sinh linh, trong đó có cả Ngao Tạng, đương nhiên cũng có cả Ngao Vương. Vì vậy nó biết dừng lại tuy chỉ cách đài hành hình có hai ba bước, cách Cang-rư-sân-cơ có bảy tám bước. Nghĩa là chỉ chậm có mấy giây, Cang-rư-sân-cơ vẫn sống. Nó sống trong đau khổ. Ngao Vương hổ đầu Tuyết Ngao cũng sống trong đau khổ vì thấy Cang-rư-sân-cơ còn sống. Sự thực 2 nhân vật lớn mà cha tôi nóng lòng mong đợi: phật sống Tan-Trân và Bạch chủ nhiệm Bạch-mã-u-chinh, trong khi cha tôi xông lên đài hành hình đòi sống đòi chết thì 2 vị ấy cũng đứng ngồi không yên. Thông qua kênh thong tin riêng của mỗi người, họ đã biết trên thảo nguyên đang xảy ra chuyện gì rồi.2 vị “đầu não” đang khẩn trương thương lượng tại thần điện hộ pháp trong chùa Chia-cu Tây.
Bạch chủ nhiệm nói: “Những phiền toái trên thảo nguyên là do Hán Cha-xi của chúng tôi gây ra, giờ chỉ có phật sống ngài đứng ra mới giải quyết được.” Phật sống Tan-Trân nói: “Thực ra trong lúc này các anh không nên trốn tránh. Phải đón nhận lấy cạm bẫy của ma quỷ, anh dũng tiến lên phá sập.” Bạch chủ nhiệm trả lời: “Chúng tôi đứng ra e không ổn. Chúng tôi xuất đầu lộ diện các tù trưởng và dân du mục sẽ hiểu lầm, cho rằng chúng tôi đứng về phía thảo nguyên Ama Thượng, sau này công tác sẽ khó triển khai.” Phật sống Tan-Trân hiểu và gật đầu: “Nhưng… nhưng tôi cũng không tiện đứng ra.” Bạch chủ nhiệm lại nói: “Nếu ngài phật gia không muốn ra mặt thì tôi đành đến đấy vậy, nhưng chỉ e các tù trưởng không nghe tôi, không đạt được mục đích cứu người. Có đi cũng bằng không.”
Việc thương lượng giữa 2 người do Mắt Kính Lý Ni-ma phiên dịch. Hầu như Bạch chủ nhiệm và Lý Ni-ma nghĩ ra hết lý do này đến lý do nọ để thuyết phục Phật sống Tan-Trân. Nét mặt vốn đã đăm chiêu của phật sống Tan-Trân lại càng đăm chiêu. Ngài biết không thể chậm trễ them nữa. Nếu cứ bàn đi tính lại như vậy, 7 sinh mạng sẽ trở thành tàn phế, 7 bàn tay máu đầm đìa sẽ thành thức ăn cho chó sói. Ngài cho người đi gọi lạt ma gậy sắt Tạng Cha-xi đến, lệnh dẫn người đi ngăn cản nghi thức chặt tay của bộ lạc Mục Mã Hạc đang cử hành dưới núi vọng gác.
Tạng Cha-xi gõ gậy sắt xuống đất 1 cái, quay lưng định đi ngay. Phậ sống Tan-Trân gọi lại hỏi: “Lạt ma gậy sắt, con đi thật ư?” Tạng Cha-xi quay người lại nói: “Dạ, nghe chỉ bảo của phật gia, con đi đây ạ.” Phật sống Tan-Trân lắc đầu: “Không phải ta bảo, mà là con tự ý đi.” Tạng Cha-xi nửa hiểu nửa không, đứng ngây ra. Phật sống Tan-Trân nói: “Ý ta nói, con tự ý cứu 7 kẻ thù Ama Thượng, không phải nhà chùa cứu. Cứu kẻ thù sẽ đắc tội với bộ lạc. Là con, con sẽ đắc tội với bộ lạc chứ không phải nhà chùa.”
Tạng Cha-xi nghĩ 1 lúc nói: “Con hiểu rồi ạ.” Phật sống Tan-Trân nói: “Con phải hiểu rõ, đắc tội với các bộ lạc con phải trả giá. Con là người chấp pháp của thảo nguyên. Hôm qua con thả hết kẻ thù đã là hành động phản nghịch, con sẽ bị đuổi khỏi chùa Chia-cu Tây, suốt đời không được làm lạt ma. Bây giờ con lại dẫn người đi cứu kẻ thù thoát khỏi lưỡi dao chặt tay, theo tập quán cổ xưa, đó là tội chồng thêm tội. Họ bắt được con sẽ chặt cả 2 bàn tay con đấy.” Tạng Cha-xi đứng nghệt ra. Phật sống Tan-Trân lại nói: “Đối với thảo nguyên chúng ta, tập quán tức là luật pháp. Ta không thể làm trái được. Con phải nghĩ xa hơn 1 chút. 1 khi con cứu kẻ thì, con không chỉ mất đi 2 bàn tay, còn mất đi cả bộ lạc, cả cộng đồng, mất đi đàn gia súc nuôi con sinh sống. Có lẽ con sẽ chỉ là 1 kẻ ăn mày, 1 tha-ua lang thang suốt đời, là cô hồn.” Nghe đến đây Tạng Cha-xi bất giác rung mình, rồi bỗng ném gậy sắt xuống đất, quỳ xuống hướng về Thiên Mẫu Cát Tường đang tọa tại chính giữa thần điện hộ pháp lạy 1 lạy, rồi quay lại lạy phật sống Tan-Trân 1 lạy và nói: “Con cầu nguyện chư phật và hộ pháp giúp con tai qua nạn khỏi, chiến thắng mọi ma chướng. Con đành phải đi thôi, vì 1 lạt ma không thể chỉ sống vì bản thân mình, giống như con Ngao Tạng chiến đấu không phải chỉ vì riêng nó.” Phật sống Tan-Trân nói: “Đúng vậy, con vì chùa Chia-cu Tây mới phải làm như vậy, Thiên Mẫu Cát Tường thiêng liêng và tất cả phật tăng pháp tăng sẽ phù hộ cho con. Con mau đi đi, e rằng không kịp nữa.”
Tạng Cha-xi đứng dậy, cầm gậy sắt lên, sải những bước dài đi ra.
|